Nghệ Thuật Điêu khắc – Lịch sử hình thành và phát triển qua các thời kì

Nghệ thuật điêu khắc đã từng bước đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Nghệ thuật điêu khắc không giới hạn về chất liệu tạo ra nó, có thể kể đến như điêu khắc đá mỹ nghệ, điêu khắc gỗ, đồng….thậm chí từ sản phẩm điêu khắc đến từ những chất liệu đơn giản nhất là lá cây, vỏ trứng

 

XEM THÊM TƯỢNG PHẬT ĐẸP TẠI ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA

[elementor-template id=”9976″]

I, Điêu khắc là gì?

Theo như khái niệm phương tây, Điêu khắc chính là một ngành nghệ thuật tạo hình, được sáng tạo theo nguyên tắc về thể tích, hình khối, vật chất trong không gian ba chiều đồng thời chịu sự chi phối của những quy luật tạo hình

Tại Việt nam, từ “điêu khắc” có nguồn gốc Hán-Việt. “Điêu” là chạm khắc, hay còn gọi là nghệ thuật chạm trỗ. Lấy dao hoặc vật nhọn vạch vào vật gì đó thì gọi là khắc. Như vậy khái niệm điêu khắc có nghĩa là dùng dụng cụ cứng như kim loại (đục, dao…) tác động vào các chất liệu cứng như đá, gỗ, xương, ngà voi tạo nên các tác phẩm nghệ thuật. Như vậy khái niệm về điêu khắc ở đây cũng bắt nguồn từ cách thức tạo hình trên chất liệu.

1, Ý nghĩa của Điêu khắc là gì qua lịch sử hình thành?

Trong lịch sử hàng ngàn năm, nghệ thuật điêu khắc đã từng bước đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người.

Trong buổi bình minh của nền văn minh nhân loại, nhiều bức tượng đã được sử dụng như là đại diện cho các vị thần và các thế lực siêu nhiên.

Các vị vua chúa trong thời cổ đại, với hy vọng biến mình trở nên bất tử, đã cho khắc tạc chân dung của bản thân.

Hàng ngàn năm trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã tạo ra được những bức tượng hoàn hảo mô tả hình thể của nam và nữ.

Các Kitô hữu tiên khởi đã dùng các hình tượng yêu ma, quỹ dữ để trang trí bàn thờ, để nhắc nhở về sự hiện diện của tội ác đối với nhiều tín đồ không thể đọc và viết.

Từ khi khởi nguồn cho đến hiện tại, có thể nói, các tác phẩm điêu khắc phần lớn được làm vô cùng hoành tráng.

Vào Thế kỷ XV, các tượng đài cho các anh hùng trong Kinh thánh đã được xây dựng trên đường phố của các thành phố của Ý, cho đếnThế kỷ XX, tượng đài của một nhạc sĩ đã được xây dựng ở trung tâm thành phố New York.

Tại trung tâm các đô thị, các đài phun nước lớn với các tác phẩm điêu khắc được cũng được xây dựng hoành tráng. Tượng điêu khắc cũng được dựng bên cạnh các tòa nhà chọc trời hiện đại, giống như trước đó hàng trăm năm, chúng xuất hiện ở trong sân của các tòa cung điện. Người Sumer cổ đại ăn mừng chiến thắng quân sự bằng các công trình điêu khắc và những người tham gia Thế chiến II cũng sử dụng các tượng đài điêu khắc để tôn vinh những người lính của mình.

2, Chất liệu sử dụng trong điêu khắc

Nghệ thuật điêu khắc không giới hạn về chất liệu tạo ra nó, có thể kể đến như điêu khắc đá mỹ nghệ, điêu khắc gỗ, đồng….thậm chí từ sản phẩm điêu khắc đến từ những chất liệu đơn giản nhất là lá cây, vỏ trứng

Khi nói đến các tác phẩm điêu khắc điều khiến người ta luôn nghĩ ngay đến là chất liệu đã tạo ra chúng, những chất liệu có tính bền vững như gốm, gỗ, đá, đồng, sắt, thép …và sự công phu của quá trình lao động sáng tạo vất vả của những người thợ, các nhà điêu khắc.

Khi chiêm ngưỡng các tác phẩm điêu khắc người ta khó cưỡng lại ước muốn được sờ vào chúng, như vậy mới cảm nhận được nhiều hơn sự hấp dẫn của chất liệu và sự gia công của người tạo ra chúng.

Thật vậy, chất liệu trong điêu khắc như đá điêu khắc, gỗ điêu khắc…không những gây ấn tượng hấp dẫn người xem bởi tính vật lý của nó, mà còn tạo nên sự say mê sâu lắng trong lòng người xem bằng ngôn ngữ biểu cảm riêng của từng chất liệu.

Đó chính là tinh thần, là hồn của chất liệu điêu khắc, một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong một tác phẩm điêu khắc.

Nó giúp cho tác phẩm trở nên thăng hoa và sống lâu hơn trong lòng của người thưởng lãm.

Nó cho thấy rằng, khi nhắc đến tác phẩm điêu khắc thì không thể không nhắc đến chất liệu tạo nên hay nói cách khác nếu thiếu chất liệu, tác phẩm điêu khắc không thể gọi là tác phẩm được.

Một số chất liệu trong điêu khắc nghệ thuật:

  • điêu khắc gỗ
  • điêu khắc đá, điêu khắc đá mỹ nghệ, điêu khắc đá quý, điêu khắc đá cẩm thạch
  • điêu khắc đất sét
  • điêu khắc kim loại
  • điêu khắc xốp
  • điêu khắc vỏ trứng
  • điêu khắc gốc cây
  • điêu khắc xi măng

3, Một số loại hình điêu khắc:

Điêu khắc Phù điêu (Chạm nổi, đắp nổi): cao, thấp, chìm, thùng, lộng, bong – kênh.

Điêu khắc Tượng tròn: tượng chân dung, tượng bán thân, tượng toàn thân, nhóm, tượng vườn, tượng trang trí.

Điêu khắc Tượng đài: Là tượng tưởng niệm nhân vật lịch sử hoặc một sự kiện lịch sử nào đó. Quy mô và hình thức tượng đài thường rất đồ sộ, chiếm không gian rộng lớn, thường nội dung chính trị, lịch sử hay huyền thoại. Tầm cỡ và quy mô quốc gia và quốc tế; tối thiểu là cấp tỉnh, huyện hay vùng. Không có các công trình tượng đài tư nhân.

Dây thép uốn, căng, treo: Là loại tạo hình có giới hạn không gian đặc biệt nhưng bên trong hoàn toàn rỗng. Khi treo thì tạo ra thành phần điêu khắc chuyển động theo ý đồ sáng tạo.

Điêu khắc thiên nhiên: Là điêu khắc hoặc tạo dáng trực tiếp từ các vật thể sống, tồn tại trong thiên nhiên như cây, đá, băng, cát, sỏi…

Điêu khắc địa hình: Là loại hình điêu khắc khổng lồ, người sáng tạo có thể dùng các phương tiện và cách thức hiện đại để điêu khắc trực tiếp vào núi, đồi, bờ biển, đảo, mặt đất…

II, Lịch sử phát triển của nghệ thuật Điêu khắc thế giới:

1, Điêu khắc thời tiền sử:

Với các dấu tích tạc hoặc đắp tìm thấy trên đá hoặc bề mặt đất. Mục đích các tác phẩm hướng tới các nghi lễ tâm linh và nghệ thuật.

Điêu khắc trong thế giới cổ đại: hình thành vào khoảng năm 3000 trước Công Nguyên. Với các vùng nghệ thuật như

2, Điêu khắc Ai Cập

Nét nổi bật nhất của Điêu khắc Ai Cập hướng tới các tác phẩm nằm trong các lăng mộ Ai Cập, nơi chôn cất câc Pharaoh và những người thân cận.

Các nghệ nhân điêu khắc Ai Cập luôn trình bày ý tưởng một cách rõ ràng. Tượng Pharaoh hay quý tộc được làm lớn hơn, tượng những người ít quan trọng được làm nhỏ hơn. Trong điêu khắc phù điêu, tất cả các phần của bố cục được hiển thị rõ ràng. Một mắt nhìn thẳng về phía trước được đặt đối diện với mặt của khuôn mặt, phần trên của cơ thể hướng về phía trước và hai chân lại nằm trong mặt cắt.

3, Nghệ thuât Điêu khắc Lưỡng Hà

Nghệ thuật Điêu khắc Lưỡng Hà sánh ngang với Ai Cập cổ đại ở mức độ kì vĩ, tinh xảo và công phu. Đó là các hình thức điêu khắc khác nhau trên đá và đất sét; cũng có sự tồn tại của một số bức tranh nhỏ, nhưng chủ yếu được sử dụng để trang trí, mặc dù hầu hết các tác phẩm điêu khắc đều được sơn màu.

Văn minh Aegean

Không nhiều những gì về điêu khắc còn sót lại từ nền văn minh Minoan trên đảo Crete. Những tác phẩm bằng ngà voi và đất nung, tượng nhỏ của nữ thần rắn, nữ tư tế và tượng nhào lộn, những chiếc cốc với những tiểu cảnh nhẹ nhàng như một con cá bị mắc vào lưới hay những người thu hoạch nông sản trở về từ cánh đồng.

4, Nghệ Thuật Điêu khắc Hy Lạp

Nền văn minh Hy Lạp bắt đầu từ khoảng 600 TCN và trở thành một nền văn minh vĩ đại nhất lịch sử thế giới.

Điêu khắc Hy Lạp tập trung lấy con người là chủ thể chính được thể hiện trong các tác phẩm Điêu khắc. Nghệ Thuật Điêu Khắc Hy Lạp tập trung trong các đền thờ nhằm khắc hoạ hình ảnh của các vị Thần hoặc Nữ Thần.

Hình tượng con người trong trong Nghệ Thuật Hy Lạp ngày càng có xu hướng gần gũi và thể hiện con người một cách thực tế hơn.

Sau khi bị người La Mã đánh chiếm, Nghê thuật điêu khắc Hy Lạp vẫn được kế thừa và phát triển. Những nhà điêu khắc Hy Lạp được uỷ quyền xây dựng các công trình điêu khắc theo các chủ đề của La Mã

5, Điêu khắc Etruscan và La Mã

Điêu khắc Hy Lạp được xuất khẩu sang Ý và đươc người Etruscan kế thừa và phát huy. Rome được hưởng lợi từ sự kế thừa nghệ thuật kép kết hợp cả điêu khắc Hy Lạp và Etruscan. Nhờ thêm sự sáng tạo của các nhà điêu khắc Hy lạp đã làm phong phú thêm di sản của nghệ thuật Điêu khắc mà đóng góp quan trọng nhất trong thời kì này là chân dung.

Sự phát triển của Điêu khắc La Mã là mặt ngược lại của Hy Lạp, thay vì tiến bộ từ các hình thức khá đơn giản, trừu tượng đến các bức tượng tự nhiên và thực tế hơn, điêu khắc La Mã, một khi thực tế, đã trở nên đơn giản và trừu tượng hơn nhiều.

6, Điêu khắc “Christian sớm”

Có tương đối ít tác phẩm về điêu khắc được thực hiện trong 1.000 năm đầu tiên của Kitô giáo. Nghệ thuật điêu khắc trong thời kì này chủ yếu là các bàn thờ di động, các thánh tích (hộp đựng hài cốt của các vị thánh và tử đạo Kitô giáo), chén thánh và các đồ vật khác được sử dụng trong các dịch vụ thờ phượng Kitô giáo. Chúng được tạo hình rất cẩn thận và thường được làm bằng vật liệu quý như ngà voi, hay các vật liệu dát mỏng …

7, Nghệ Thuật Điêu khắc La Mã

Một chương mới phát triển rực rỡ trong nghệ thuật Kitô giáo bắt đầu từ những năm 1000 sau CN. Thời kì này ra đời các tác phẩm điêu khắc đồ sộ và có thể kéo dài lên hàng trăm năm.

8, Điêu khắc Gothic

Điêu khắc sau Thế kỷ XII dần thay đổi chuyển từ sự trừu tượng rõ ràng và tập trung của nghệ thuật La Mã sang một diện mạo tự nhiên và giống “như thật” hơn. Hình tượng con người được thể hiện một cách sống động, theo tỷ lệ tự nhiên, được chạm khắc nổi trên các cột và cổng nhà thờ.

9, Điêu khắc thời kì Phục hưng

Ngay từ Thế kỷ 13, người Ý đã gieo hạt giống của một thời đại mới: Phục hưng (Renaissance). Các nghệ sĩ Ý đã chú tâm đến việc làm sống lại cách tiếp cận cổ điển đối với nghệ thuật đặc biệt là điêu khắc.

Điểm nổi bật trong nghệ thuật xảy ra trong thời Phục hưng là sự nhấn mạnh mới mẻ trong việc tôn vinh hình tượng con người. Điêu khắc không còn chỉ đối phó với các vị thánh và thiên thần nhân cách hóa. Các nhân vật điêu khắc trong thời kì này bắt đầu trông giống như thật hơn.

Các nhà điêu khắc nổi bật trong thời kì Phục Hưng có thể kể tới như: Nicola Pisano (1220-1284, Donatello, Lorenzo Ghiberti (1378-1455), Jacopo della Quercia (1378?-1438), Luca della Robbia (1400?-1482), và đặc biệt là Michelangelo

10, Điêu khắc Baroque

Các nhà điêu khắc trong Thế kỷ XVII tiếp tục đối phó với nhiều vấn đề điêu khắc tương tự như các bậc tiền bối thời Phục hưng của họ, sử dụng hình người như một hình thức thể hiện.

Họ kế thừa và phát huy trường phái nghệ thuật điêu khắc của Michelangelo. Nhà điêu khắc tiêu biêut thời kì này là Giovanni Lorenzo Bernini (1598-1680).

Tượng David của Bernini tiết lộ sự ngưỡng mộ của ông đối với Michelangelo và thể hiện sự độc đáo của chính ông.

Nó có sự to lớn và sức mạnh của David của Michelangelo nhưng là một nhân vật tích cực hơn và ít bi thảm hơn.

Các nhân vật của Bernini, đứng trong tư thế ấn tượng – như thể họ là diễn viên trên một sân khấu, tiếp cận với người quan

11, Điêu khắc Rococo

Những phẩm chất cơ bản của nghệ thuật Thế kỷ XVII đã được chuyển sang Thế kỷ XVIII nhưng được biến đổi theo sở thích của một thế hệ khác. Thuật ngữ “rococo” gợi ý sự ưu tiên cho các hiệu ứng trang trí, nhẹ hơn và nhiều hơn, trong điêu khắc và trong tất cả các lĩnh vực nghệ thuật.

Tác giả tiêu biểu cho thời kì này có thể kể đến như Jean Baptiste Pigalle (1714-1785) và Étienne Maurice Falconet (1716-1791). Họ thể hiện sự khéo léo về kỹ thuật tương tự như Bernini, nhưng tượng của họ toát ra những biểu cảm nhẹ nhàng và vui tươi.

12, Điêu khắc tân cổ điển và lãng mạn

Diễn ra bắt đầu từ cuối thế kỉ XVIII và có xu hướng đi ngược lại với phong cách Rococo. Các tác gia tiêu biểu là Antonio Canova (1757-1822), Auguste Rodin…

13, Điêu khắc thế kỷ 20

Hoàn cảnh Lịch sử:

Bước vào thế kỷ 20, nghệ thuật có những diễn biến phức tạp bởi yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội xảy ra ở hàng loạt các nước. Chiến tranh và cách mạng đã làm thay đổi tương quan lực lượng trên phạm vi toàn thế giới giữa hai nền văn hóa tư sản và vô sản.

Trong thời kỳ này, nghệ thuật hiện thực phát triển theo tinh thần đấu tranh cho tiến bộ xã hội, cải tạo thế giới trên cơ sở chính nghĩa, chủ nghĩa hiện thực ở thế kỷ 20 độc lập phát triển và làm phong phú cho truyền thống đó, đồng thời tìm kiếm những phương tiện tạo hình mới. Song song với chủ nghĩa hiện thực phê phán, chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ra đời thể hiện nhận thức Marxist về những quy luật phát triển, quan điểm của giai cấp (vô sản).

Cuộc cách mạng tháng 10 Nga được nhiều nghệ sĩ lớn của thế giới chào đón. Trong thế chiến thứ hai, có không ít nghệ sĩ tạo hình đứng trong hàng ngũ chống chủ nghĩa phát xít Hitle. Ở các nước tư bản, hàng loạt nhóm và khuynh hướng nghệ thuật Modec dưới sự bảo trợ của giai cấp thống trị công khai chống lại nghệ thuật hiện thực (đầu thế kỷ 20), họ từ bỏ tư tưởng dân chủ tiến bộ, coi nghệ thuật là “tự thân” phủ định thực tiễn, thu mình trong xưởng họa, giải quyết những nhiệm vụ của nghệ thuật trong “khuôn khổ”, chủ quan và đôi khi cũng rất “hình thức”. Bên cạnh đó, chủ nghĩa trừu tượng ra đời chống lại chủ nghĩa hiện thực. Như thế, nghệ thuật tạo hình ở thế kỉ 20 đầy phức tạp và nhiều mâu thuẫn .

Đặc điểm của nghệ thuật Điêu khắc hiện đại:

Các trào lưu kiến trúc, khuynh hướng phục cổ, kỹ thuật mới hiện đại. Hội họa và điêu khắc theo khuynh hướng hiện thực ở Pháp, Đức, Ý, Thụy Sĩ .

Trong đời sống nghệ thuật Mỹ vào đầu thế kỷ 20 là cuộc triển lãm ở New York của nhóm 8 họa sĩ thuộc chủ nghĩa hiện thực, đứng đầu nhóm là Robert Henri

Thế kỷ 20 là thời đại thử nghiệm những ý tưởng mới, phong cách mới và vật liệu mới. Các nghiên cứu về hình thể (giải phẫu) con người đã nhường chỗ cho các môn học mới: giấc mơ, ý tưởng, cảm xúc và nghiên cứu về mẫu hình và không gian. Nhựa, crôm và thép hàn đã được sử dụng, cũng như thậm chí các hộp, các bộ phận ô tô bị hỏng và các mảnh đồ nội thất cũ.

III, Lịch sử phát triển nghệ thuật điêu khắc tại Việt Nam:

Trong tiến trình phát triển của văn hoá Việt Nam, điêu khắc có một lịch sử phát triển liên tục và lâu dài nhất. Mỗi một tác phẩm điêu khắc lại khắc hoạ những hình ảnh con người Việt Nam từng miền, từng thời kỳ khác nhau. Dù các tác phẩm điêu khắc đó mang ý hình ảnh thần linh hay con người thế tục.

Mặc dù chịu sự ảnh hưởng bởi hai nền văn hóa lân cận là Ấn Độ và Trung. Song, nghệ thuật điêu khắc của Việt Nam vẫn phát triển theo cái chất riêng vốn có. Từ các mối giao thoa giữa các nền văn hóa và dân tộc cho đến quá trình lịch sử hình thành lâu dài của đất nước. Tất cả đã khiến cho hình ảnh của nền điêu khắc nước nhà vô cùng đa dạng.

Nghệ thuật Điêu khắc nước nhà luôn chịu sự kế thừa và phát triển theo các nên văn hoá do các thời kì trước để lại. Từ đó tạo nên một tính xuyên suốt cao trong thời gian dài.

1, Nghệ thuật điêu khắc Champa

Vương quốc này nằm ở miền Nam Trung Bộ lúc bấy giờ là sự kết hợp giữa hai dân tộc Can và Dừa. Chia thành một số khu vực địa lý tự nhiên trải dài trên các đồng bằng ven biển là Amaravati (Quảng Nam), Vijaya (Bình Định), Kauthara (Nha Trang) và Paduranaga (Phan Rang)

Tuy từ thuở sơ khai ở thế kỷ thứ 2, thì nghệ thuật Điêu khắc ở đây vẫn chưa có nhiều tác phẩm đặc sắc. Đến thế kỉ VII – VIII, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của người Champa trở nên hưng thịnh hơn. Nhờ vào phong trào Phật giáo hoá và Ấn Độ giáo diễn ra và lan rộng khắp Đông Nam Á.

Tháp Champa ở thời kỳ này được xây bằng gạch không vữa và thường chỉ có một cổng, bao gồm luôn cả một tháp phụ có mái hình con thuyền. Công trình thường có một tháp chính ở trung tâm khối vuốt lên cao, nở ra ở nhiều góc và các múi vòm. Trên tháp thường gắn các phù điêu được chạm khắc hình thần Siva hay các tiên nữ Apsara. Điêu khắc tượng tròn được bố trí một cách hài hoà xung quanh công trình kiến trúc. Các mẫu tượng đá Chăm đẹp tại đấy được đục đeo dựa vào các chức năng khác nhau.

Các di sản điêu khắc Champa đa số đã bị chiến tranh tàn phá, còn lưu lại rất ít cho tới ngày nay.

2, Nghệ thuật điêu khắc qua các triều đại phong kiến

Điêu khắc thời Lý (1010 – 1225)

Đây là thời kì phát triển mạnh mẽ của Phật giáo và trở thành Quốc đạo. Từ đó nghệ thuật điêu khắc cũng phát triển, đặc biệt là kiến trúc trong các đình chùa của Phật giáo

Điêu khắc thời Lý khá tinh vi và cân đối, đa dạng và độc đáo về các đề tài điêu khắc. Nhưng thường là các chủ đề về thiên nhiên như mây, nước, hoa sen, hoa cúc. Nghệ thuật điêu khắc rồng thời Lý với nhiều nếp cong mềm mại, tượng trưng cho nguồn nước, niềm mơ ước cho cư dân trồng lúa tạo nên những nét riêng biệt.

Nghệ thuật điêu khắc thời Lý trong Phật giáo

Tác phẩm điêu khắc tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích được coi là pho tượng Phật cổ nhất ở miền Bắc Việt Nam. Các phiên bản của pho tương cũng được trưng bày ở Bảo tàng lịch sử Quốc Gia và Bảo Tàng Mỹ Thuật.

Chùa Phật Tích còn lưu giữ nhiều di sản điêu khắc quý giá khác, có thể kể tới như:

Chân cột bằng đá chạm khắc hoa sen, mỗi hoa sen có một đôi rồng chầu

Bức phù điêu dàn nhạc công “Thiên Thần” tấu nhạc dân tộc

Hang thú đá với 10 con thú đối xứng nhau trong tư thế chầu phục.

Điêu khắc rồng thời Lý

Dựa trên các tác phẩm điêu khắc đá và gốm được khai quật và bảo tồn cho tới ngày nay. Chỉ tìm thấy rồng được tạc dưới dạng phù điêu, không tìm thấy hình thức chạm chìm và chạm tròn. Thân rông không có vẩy, khá dài và được chạm tròn, uốn lượn mềm mại. Tạo nên sự nhẹ nhàng và thanh thoát cho tác phẩm Điêu khắc Rồng.

Điêu khắc Rồng thời Lý có nhưng điểm nổi bật: bố cục thường là hình tròn, cánh sen, lá đề, chữ nhật. Có thể chia thành hai loại là cổ ngẫng và cổ rụt.

Những con rồng thời Lý đầu thường ngẩng lên, miệng thì há to, mép trên của miệng không có mũi. Kéo dài ra thành một cái vòi uốn mềm mại, vươn lên cao, móng vuốt nhỏ dần về phía cuối.Rồng có một hàng vẩy thấp dọc sống lưng tỉa riêng ra từng cái, đầu vây trước tua vào hàng vây sau. Có các đốt ngắn ở bụng như rắn. Được chạm khắc có bốn chân, mỗi chân có ba ngón phía trước nhưng không có ngón chân sau. Chân trước mọc gần giữa khúc uốn thứ nhất, đối xứng phía bên kia nằm gần cuối khúc uốn này.

Điêu khắc và trang trí thời Trần (1225 – 1400)

Vào thời Trần, các loại hình nghệ thuật chủ yếu trên lĩnh vực âm nhạc và đặc biệt là điêu khắc. Nghệ thuật điêu khắc thời Trần chịu ảnh hưởng kế thừa và phát huy thời nhà Lý.

Tuy nhiên điêu khắc thời Trần cũng có nhưng nét riêng biệt, tạo hình hiện thực và khoẻ khoắn hơn, mạnh mẽ khái quát mà quan tâm tới tính biến động của cấu trúc tổng thể hơn.

Những công trình điêu khắc được thể hiện trong cung điện, chùa chiền, dinh thự và lăng mộ vua chúa tuy nhiên điêu khắc Phật Giáo thời Trần không phát triển như thời Lý. Nhìn chung, Điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ và tinh xảo hơn so với thời Lý.

Điêu khắc rồng thời Trần

Điêu khắc đầu rồng thời Lý và thời Trần rất giống nhau nhưng vẫn có thể phân biệt được bởi đầu rồng không có nhiều chi tiết phức tạp như thời Lý, thân rồng vẫn giữ được dáng dấp như thời Lý. Hình tượng rồng được chạm khắc trên đá khá trau chuốt và uy nghiêm. Các đường cong tròn nối nhau, thân nhỏ dần về phía sau và kết thúc như đuôi rắn. Vẩy lưng vẫn thể hiện từng chiếc một, vảy hình răng cưa lớn và nhọn.

Miệng rồng được chạm khắc há to nhưng nhiều khi không đớp quả cầu. Chân rồng thường ngắn hơn chân rồng thời Lý. Rồng vẫn có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng không nhiều uốn khúc. Răng nanh của rồng phía trước khá lớn, vắt qua sóng vòi.

Điêu khắc rồng bằng đá đẹp thời Trần với tư thế uốn lượn khá thoải mái với động tác dứt khoát và mạnh mẽ. Thân rồng to và chắc hơn rồng thời Lý. Hình tượng rồng luôn vươn mình về phía trước.

Điêu khắc thời Lê Sơ (1428 -1527)

Trong thời kì này, Nho giáo phát triển mạnh và đẩy lùi Phật giáo, do dó các tác phẩm điêu khắc Phật giáo cũng mờ nhạt. Các tác phẩm điêu khắc ở thời kì này được mang một phong cách hoa mĩ, nuột nà và cầu kì hơn thời trước đó.

Công trình Lam Kinh được bắt đầu xây dựng từ năm 1433 sau khi Lê Thái Tổ qua đời. Tổng quan bao gồm khu quần thể kiến trúc các cung điện và miếu, lăng mộ các vua Lê, và hiện nay đã bị phá huỷ gần hết, chỉ còn lại một ít phế tích các mẫu Nghê đá đẹp, ngựa đá, voi đá, hổ đá. Và một số bia đá như bia Vĩnh Lăng, bia Hựu Lăng và bia Chiêu Lăng.

Cũng giống như các thời kì trước, nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc gắn bó chặt chẽ với nhau. Những tác phẩm điêu khắc của thời Lê Sơ thường được tìm thấy tại các lăng mộ, đặc biệt là lăng mộ vua chúa. Đó là những tượng quan hầu, tượng con giống đá hay những hình chạm khắc trên các thành bậc cửa điện Kính Thiên, đàn Nam Giao trên các bia ở lăng mộ và bia tiến sĩ ở Văn Miếu.

Thời Lê có nhiều bia đá được chạm khắc nổi, trang trí hình rồng. Trên lăng của Lê Thái Tổ, hàng chục con rồng lớn nhỏ được khắc lên hai mặt bia. Điêu khăc rồng trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam ở nửa đầu thời Lê vẫn có đặc điểm rất riêng, về nửa cuối sau thì hình dáng mạnh mẽ của rồng trở thành hình mẫu chủ yếu.

Một số tác phẩm đẹp về nghệ thuật Điêu Khắc do Điêu Khắc Trần Gia phát hành:

 

 

XEM THÊM TƯỢNG PHẬT ĐẸP TẠI ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA

[elementor-template id=”9976″]

Xin mời quý Phật tử hoan hỷ chiêm ngưỡng video tổng hợp những hình ảnh tượng Phật đẹp nhất do điêu khắc Trần Gia tôn tạo nhé.

Nhận xét tích cực từ quý khách hàng của cơ sở điêu khắc tượng Phật Trần Gia:

Mời quý Phật tử cùng chiêm ngưỡng hết các mẫu tượng Phật đẹp nhất do điêu khắc Trần Gia tôn tạo nhé:


* Tượng Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni


* Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát


* Tượng Phật Địa Tạng Vương Bồ Tát.


* Tượng Phật Văn Thù Sư Lợi – Phổ Hiền Bồ Tát .


* Tượng Phật A Di Đà.


* Tượng Đạt Ma Sư Tổ.


* Tượng Phật Di Lặc Bồ Tát.


* Tượng Tiêu Diện Đại Sĩ – Vi Đà Hộ Pháp.

CƠ SỞ ĐIÊU KHẮC TRẦN GIA.

Chuyên Tư Vấn – Thiết Kế – Thi Công Các Công Trình Nghệ Thuật

Đa Dạng Kích Thước – Đa Dạng Chất Liệu .

Trụ sở chính : 27 Đường số 1, khu phố 5, P. Hiệp Bình Phước, Q. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh

Lâm Đồng : 57 Nguyễn Chí Thanh, Nghĩa Lập, Đơn Dương, Lâm Đồng

Website : dieukhactrangia.com

Hotline : 0931.47.07.26

​Email : dieukhactrangia@gmail.com

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.